Những điền cần nắm rõ về EB-5 trực tiếp – IMM Immigration

Trong giai đoạn xét duyệt I-526, nhà đầu tư chưa được cấp visa định cư nên sẽ là một trở ngại nếu muốn vận hành doanh nghiệp tại Mỹ trong thời gian này. Nhà đầu tư sẽ không được phép

trực tiếp là gì?
EB-5 là chương trình định cư Mỹ theo diện đầu tư, được ban hành vào năm 1990, cho phép nhà đầu tư và gia đình xin thị thực nhập cư dựa trên việc đầu tư vào một doanh nghiệp và tạo ra việc làm. Chương trình này chỉ đơn giản là “EB-5” cho đến năm 1992, khi chương trình Trung tâm vùng EB-5 (có thời hạn) ra đời cho phép sử dụng số việc làm gián tiếp. Kể từ đó, “EB-5 trực tiếp” được hiểu là đầu tư không có sự tham gia của Trung tâm vùng. Dưới đây là một số điểm khác và giống nhau:


EB-5 trực tiếp

EB-5 Trung tâm vùng

Tạo việc làm

Giới hạn trong số việc làm trực tiếp, tức là các vị trí nhân viên được kiểm toán viên xác định cụ thể trong một doanh nghiệp duy nhất nhận được đầu tư.

Được tính các việc làm gián tiếp, sử dụng mô hình kinh tế để tính số việc làm tạo ra từ hoạt động đầu tư. Điều này cho phép cấu trúc đầu tư linh hoạt hơn so với EB-5 trực tiếp.

Sự tham gia của Trung tâm vùng

Đầu tư trực tiếp không có giai đoạn chấp thuận trước từ Sở Di trú.

Khoản đầu tư cần phải được tham gia bởi một Trung tâm vùng. Trung tâm vùng này cần được chấp thuận trước bởi Sở Di trú. Bộ hợp đồng đầu tư cũng phải tuân theo yêu cầu của Ủy ban chứng khoán trước khi được sử dụng để kêu gọi vốn.

Điều kiện khác

Tất cả các điều kiện còn lại đều áp dụng giống nhau như:

– Mức vốn đầu tư tối thiểu

– Khu vực ưu tiên đầu tư TEA

– Số lượng việc làm tối thiểu tạo ra

– Vai trò của nhà đầu tư trong dự án

– Yêu cầu về rủi ro với số tiền đầu tư

– Quá trình xét duyệt, lượng visa hàng năm phân bổ,…

Nếu Quốc Hội hoặc Sở Di trú tăng số tiền đầu tư tối thiểu EB-5 hoặc thay đổi điều kiện về khu vực ưu tiên đầu tư TEA thì EB-5 trực tiếp hay cùng Trung tâm vùng đều sẽ bị ảnh hưởng như nhau.

Số lượng visa EB-5 cấp cho người Việt Nam:
Năm

EB-5 trực tiếp

EB-5 Trung tâm vùng

Tổng

Khu vực

không ưu tiên

(non-TEA)

Khu vực

ưu tiên (TEA)

Khu vực

không ưu tiên

(non-TEA)

Khu vực

ưu tiên (TEA)

2016

9

5

0

320

334

2015

4

4

0

242

250

2014

0

0

0

121

121

2013

5

0

0

41

46

2012

1

0

0

34

35

2011

7

0

0

19

26

2010

0

0

0

15

15

2009

1

0

0

10

11

2008

2

0

0

2

4

2007

0

0

0

0

0

Số lượng này bao gồm cả visa được cấp tại lãnh sự quán và visa được cấp thông qua chuyển đổi tình trạng từ những cá nhân đang ở tại Mỹ. Nguồn: https://travel.state.gov/content/visas/en/law-and-policy/statistics.html

Trong năm tài chính 2015 và 2016, số lượng visa định cư cấp cho người Việt Nam theo EB-5 trực tiếp chỉ chiếm khoảng 2%-3%, một con số rất khiêm tốn so với số visa được cấp theo EB-5 Trung tâm vùng. Không có nhiều nhà đầu tư lựa chọn hình thức EB-5 trực tiếp.

Những điều lưu ý:
Vì chỉ được tính số việc làm trực tiếp những việc làm này phải thuộc doanh nghiệp nhận vốn. Những người làm việc tại các đơn vị liên kết, nhà thầu, nhà cung cấp, bên vay, quản lý… sẽ không được tính là việc làm hợp lý kể cả họ làm việc địa chỉ của doanh nghiệp nhận vốn.

Những việc làm do nhà đầu tư hoặc các thành viên gia đình của nhà đầu tư đảm nhận sẽ không được tính.

Nhà đầu tư EB-5 trực tiếp phải có cổ phần trong công ty tạo ra việc làm và thể hiện có tham gia vào hoạt động kinh doanh trong công ty ít nhất là có vai trò hoạch định chính sách trong công ty đó.

EB-5 trực tiếp không thể áp dụng cấu trúc đầu tư theo hình thức cho vay, bởi vì một khoản vay phụ thuộc vào khả năng của người cho vay và người vay riêng biệt. Thay vào đó, vốn EB-5 phải được đầu tư trực tiếp vào doanh nghiệp tạo việc làm, và số tiền này phải tuân theo điều kiện có rủi ro. Việc cấu trúc theo khoản vay hay khoản nợ là không được phép trong EB-5 trực tiếp.

Tại giai đoạn nộp đơn I-829 để xóa điều kiện thẻ xanh, EB-5 trực tiếp cần cung cấp nhiều giấy tờ và bằng chứng hơn. Mục đích là để chứng minh quá trình trả lương, kê khai thuế của các nhân viên trong công ty. Đồng thời thể hiện các nhân viên này là công dân, thường trú nhân hoặc những cá nhân làm việc hợp pháp. Các nhà đầu tư EB-5 Trung tâm vùng không cần cung cấp các giấy tờ này vì cho phép đáp ứng điều kiện tạo việc làm thông qua các mô hình kinh tế hoặc cách thức khác nhau.

Trong giai đoạn xét duyệt I-526, nhà đầu tư chưa được cấp visa định cư nên sẽ là một trở ngại nếu muốn vận hành doanh nghiệp tại Mỹ trong thời gian này. Nhà đầu tư sẽ không được phép làm điều này nếu chỉ sở hữu visa B1/B2. Đây là một khó khăn không nhỏ vì số việc làm tạo ra phải được duy trì tối thiểu 2 năm để nộp đơn I-829 xóa bỏ điều kiện của thẻ xanh sau này.

Kết luận:
EB-5 trực tiếp sẽ là lựa chọn cho những nhà đầu tư thực sự muốn sở hữu và tham gia vào hoạt động của công ty. Thực tế đòi hỏi những nhà đầu tư này cần thông thạo về tiếng Anh và cách thức hoạt động doanh nghiệp tại Mỹ (hoặc sẵn sàng thuê các đơn vị, chuyên gia hỗ trợ). Con đường này sẽ yêu cầu nhà đầu tư dành nhiều thời gian và công sức vì thực tế sẽ phải đầu tư và tham gia vào doanh nghiệp tối thiểu 5 năm và thông thường sẽ cần một đơn vị thứ ba để quản lý và vận hành doanh nghiệp trong thời gian ban đầu, ít nhất là trong giai đoạn xét duyệt I-526 (khoảng 18-20 tháng).

EB-5 Trung tâm vùng là lựa chọn cho những nhà đầu tư không dành thời gian để quản lý doanh nghiệp và không thông thạo về vận hành một doanh nghiệp tại Mỹ. Đồng thời các doanh nghiệp huy động vốn EB-5 theo hình thức này thường hợp tác cùng luật sư di trú, chuyên gia phân tích kinh tế có chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực EB-5. Đây cũng là con đường mà hơn 95% nhà đầu tư đã lựa chọn để nhận được thẻ xanh.

Liên Quan Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *